Giá trị nền tảng của một gia đình là gì? Điều gì giữ cho những con người gắn kết với nhau dưới một mái nhà? Ta có thể nghĩ đến ngay tình yêu thương và trách nhiệm. Là niềm vui khi được ở bên nhau. Là sự chia sẻ và đỡ đần những trách nhiệm. Là sự gắn kết, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ lẫn nhau. Có giá trị nào ở đó mà các cặp đôi cùng giới không thể cùng nhau thực hiện được hay không?
TẤT CẢ NHỮNG GIÁ TRỊ TỐT ĐẸP NHẤT CỦA GIA ĐÌNH, CÁC CẶP ĐÔI CÙNG GIỚI ĐỀU CÓ THỂ THỰC HIỆN TRỌN VẸN
Vậy nếu không có bất kỳ sự khiếm khuyết nào về năng lực chăm sóc, đạo đức, trí tuệ và tình cảm, thì rốt cuộc vì lý do gì người ta lại mặc định cho rằng có một sự “sai trái” hay “khiếm khuyết” ở một gia đình cùng giới?
Những lập luận phản đối thường xoay quanh hai yếu tố: Truyền thống và Tự nhiên. Luồng quan điểm này cho rằng hôn nhân, về bản chất, phải là sự kết hợp độc quyền giữa một nam và một nữ, với mục tiêu quan trọng nhất là sinh sản. Theo đó, mối quan hệ hôn nhân chỉ được pháp luật công nhận khi nó đảm bảo chức năng duy trì nòi giống. Truyền thống này kéo dài, và trở thành một quy luật của tự nhiên.
Trong hệ giá trị này, mối quan hệ cùng giới không chỉ bị coi là hành vi đi ngược lại truyền thống, mà còn bị coi là trái tự nhiên.
NHƯNG LÀ TRÁI VỚI TRUYỀN THỐNG NÀO?
Chúng ta cần đặt nhiều câu hỏi với niềm tin về “truyền thống” này. Truyền thống đó là truyền thống nào? Và có phải bởi vì đó là thứ đã xảy ra, nên ta không bao giờ được làm khác đi?
Lịch sử nhân loại từng chứa đựng những “truyền thống” hôn nhân mà chúng ta ngày hôm nay không còn giữ lại. Nhiều thực hành có thể khiến con người hiện đại nhìn lại và cảm thấy không thể chấp nhận được. Hôn nhân đa thê từng là một chuẩn mực bình thường, trong khi kết hôn với người khác chủng tộc lại bị coi là điều sai trái.
Nhân loại thay đổi những truyền thống ấy vì nhận ra sự bất công cấu trúc ẩn chứa bên trong chúng. Do đó, chỉ vì một mô hình hôn nhân tồn tại đủ lâu trong dòng chảy lịch sử, nó không mặc nhiên trở thành một chân lý hay một giới hạn mà ta không thể làm khác đi.
Kể cả khi phần lớn các cuộc hôn nhân trong lịch sử xoay quanh mối quan hệ dị tính giữa những người khác giới, điều đó không khiến cho hôn nhân cùng giới trở nên sai trái.
VÀ “TRÁI TỰ NHIÊN” THÌ SAO?
Chúng ta không cần phải nỗ lực chứng minh quan hệ đồng tính hay hôn nhân cùng giới có “thuận tự nhiên” hay không nữa. Hiện tượng đồng tính đã luôn được ghi nhận trong thế giới của đa dạng các sinh vật sống. Nhưng kể cả không có thì cũng chẳng sao hết.
Tự nhiên của các sinh vật sống khác cũng chẳng có văn bản pháp luật hay thiết chế hôn nhân. Thế giới hoang dã cũng chứa đựng đủ mọi điều tàn nhẫn và đau đớn. Cá lớn nuốt cá bé, bệnh tật và đói khát. Quá trình chọn lọc tự nhiên dửng dưng và vô cảm với nỗi đau muôn loài. Nếu lấy tự nhiên làm quy chuẩn cho đạo đức, con người sẽ phải dung túng cho những thực hành bạo lực và tàn nhẫn nhất.
Vậy nên tự nhiên không thể và cũng không nên là hệ quy chiếu để con người dựa vào và quyết định nên hay không nên làm gì.
Trên thực tế, toàn bộ tiến trình văn minh nhân loại chính là một hành trình nỗ lực để làm nhiều điều “trái tự nhiên”. Tự nhiên chỉ ưu ái sinh vật phù hợp nhất, chúng ta tạo ra hệ thống luật pháp và phúc lợi để bảo vệ nhóm yếu thế. Bệnh dịch và cơn đau là một phần tất yếu, chúng ta phát minh ra y học, vắc-xin và thuốc kháng sinh để giảm đau và giành giật lại sự sống. Nhân loại kiến tạo nên triết học, thi ca và văn bản pháp luật. Tất cả những thứ đó hoàn toàn vắng bóng trong trạng thái hoang dã. Hầu hết những giá trị tốt đẹp nhất, định hình nên tính người của chúng ta, thật ra cũng rất… trái tự nhiên.
Do đó, việc dán nhãn “trái tự nhiên” để tước đoạt quyền mưu cầu hạnh phúc và lập gia đình của các cặp đôi cùng giới là một ngụy biện vô lý. Các quyết định định hình thiết chế xã hội cần phải dựa trên thực tế đời sống con người, với những hệ giá trị mà chúng ta cùng nhau chia sẻ.
Khi một gia đình cùng giới xây dựng dựa trên sự tự nguyện, tình yêu thương và cam kết gánh vác trách nhiệm, họ đang thực hành chính xác những hệ giá trị đó. Việc khước từ họ không hề giúp chúng ta bảo vệ “tự nhiên”, mà thực chất là chúng ta đang tự chối bỏ chính những giá trị đạo đức mà nhân loại cùng hướng tới.
HÔN NHÂN KHÔNG CHỈ PHỤC VỤ CHO MỤC ĐÍCH SINH SẢN.
Sau cùng, lập luận cho rằng hôn nhân chỉ hợp lý khi phục vụ mục đích sinh sản là một tiêu chuẩn kép đầy mâu thuẫn với thực tế pháp lý.
Nếu khả năng sinh sản thực sự là điều kiện tiên quyết để quyết định quyền kết hôn, thì pháp luật đã và sẽ đối xử thế nào với những cặp đôi không thể hay không muốn sinh con? Liệu có hợp lý không nếu ta nói với một cặp đôi chọn không sinh con rằng, vì không mang lại lợi ích duy trì nòi giống, nên tình yêu và sự gắn kết của họ không đáng được pháp luật bảo hộ?
Hiển nhiên là không. Thực tế là luật pháp vẫn thừa nhận và bảo vệ cuộc hôn nhân của các cặp đôi ấy. Nó là minh chứng cho thấy xã hội thừa nhận rằng hôn nhân chứa đựng những quyền nhân thân, sự chở che và giá trị chăm sóc thay vì chỉ chức năng sinh đẻ thuần túy. Và đó là chưa kể đến việc các cặp đôi cùng giới vẫn có thể có con.
Vậy nếu việc không sinh con theo cách “truyền thống” không làm mất đi tính chính danh của cuộc hôn nhân dị tính, thì cơ sở nào để áp dụng một tiêu chuẩn riêng khắt khe và phân biệt đối xử hơn đối với các cặp đôi cùng giới?
NẾU TRUYỀN THỐNG LÀ NGHĨA TÌNH
Rốt cuộc thì, những giá trị nào thực sự làm nên ý nghĩa và giá trị của một gia đình? Bất kể câu trả lời của chúng ta có là gì, hãy tự hỏi liệu nó có bị giới hạn bởi giới tính hay xu hướng tính dục của các thành viên hay không.
Chúng ta vẫn chứng kiến những cặp đôi cùng giới yêu thương, chia sẻ và vun đắp xây dựng gia đình. Chúng ta cũng thấy các gia đình cùng giới cũng đang vượt lên những định kiến và rào cản pháp lý để đùm bọc và chăm sóc lẫn nhau. Pháp luật và xã hội cần nhìn thấy những điều đấy.


