Ở tháng thứ bảy của thai kỳ, bụng to và hơi thở khó nhọc, chị Hoa vẫn phải dành 10 tiếng chạy xe ngoài đường. Nỗi lo về khoản chi phí cho con buộc chị phải tiếp tục nhận thêm những cuốc xe. Mỗi ngày chỉ được chợp mắt tầm 4-5 tiếng, thời gian còn lại thức để kiếm tiền và chăm sóc gia đình.
Trước đây, chị Hoa là một công nhân nhà máy. Tám năm trước, con gái đầu lòng hay ốm vặt, chị liên tục phải xin nghỉ làm để chăm con. Không thể cứ xin nghỉ nhiều lần như thế, chị đành rời nhà máy để chạy xe công nghệ. Chị hy vọng công việc linh hoạt này có thể giúp chị vừa kiếm tiền vừa đưa đón chăm sóc con.
Những ngày đầu, viễn cảnh ấy có vẻ thành sự thực. Nhưng rất nhanh chị nhận ra rằng nếu mình tắt app hay hủy cuốc xe để dành thời gian chăm con, thuật toán sẽ “phạt”. Nếu tắt app hoặc hủy chuyến nhiều, số cuốc xe được nhận cũng sẽ giảm theo. Có những hôm gần đến giờ đón con, ứng dụng lại “nổ” một cuốc xe đi rất xa. Rất muốn hủy chuyến để về với đứa trẻ đang chờ, nhưng chị đành chấp nhận chạy tiếp vì sợ mất điểm thưởng.
CÂU CHUYỆN KHÔNG CỦA RIÊNG AI
Câu chuyện của chị Hoa không phải là cá biệt. Đó là hoàn cảnh chung của vô vàn những “người lao động” đang gồng mình chạy theo nền tảng số. Dù mang danh là “đối tác”, tương lai và vị thế kinh tế của họ lại mắc kẹt tại nơi không bảo hiểm, không lương hưu, và thậm chí không có cơ hội lên tiếng bảo vệ quyền lợi của mình với các nền tảng.
Sự gia nhập của nữ giới vào nền kinh tế số hiện nay diễn ra rất rõ ở hai không gian: ngoài đường phố (với các nữ tài xế công nghệ, shipper), và tại gia đình (với những người bán hàng online, livestream, tiếp thị liên kết). Dù cùng coi đây là những nghề mưu sinh, nhưng những nữ tài xế hay shipper vẫn sẽ vừa phải làm việc kiếm tiền, vừa đảm đương các công việc nội trợ và chăm lo người thân.
Đó là lý do mà lời hứa hẹn về sự “linh hoạt” lại khiến họ kỳ vọng nhiều đến vậy. Những người mẹ mong mỏi rằng họ có thể làm công việc này khi có thời gian, và có thể chủ động tắt ứng dụng để đi đón con, nấu bữa tối hay làm việc nhà. Sâu xa hơn, điều này phản ánh nỗ lực vừa tự chủ tài chính, vừa duy trì trách nhiệm của một người mẹ, người vợ theo những chuẩn mực truyền thống.
Thế nhưng, sự linh hoạt ấy không đồng nghĩa với việc người lao động có nhiều quyền kiểm soát thời gian hơn. Khi thu nhập phụ thuộc vào việc phải sẵn sàng nhận cuốc, chốt đơn hay duy trì các chỉ số của nền tảng, công việc có thể lấn ngày càng sâu vào không gian khác trong đời sống. Những người lao động không hề được giảm bớt giờ làm việc. Họ chỉ đang gánh thêm chồng chất những yêu cầu khắt khe của công việc, trên đôi vai đã gánh hàng tá các trách nhiệm chăm sóc không được trả lương.
Dù là một tài xế chạy xe ngoài đường hay một mẹ bỉm sữa đóng đơn trong phòng ngủ, cuộc sống của những người phụ nữ này đều bị xé vụn ra thành những mảnh nhỏ. Họ giao nhau ở khoảng chen ngang của công việc kiếm tiền và công việc chăm sóc. Năm phút chốt đơn, hai mươi phút vỗ lưng dỗ con khóc, mười phút hối hả cắt dán màng xốp nổ, nhận nốt cuốc xe rồi lại vội vàng chạy đi đón con. Họ không có đặc quyền cân bằng giữa công việc và gia đình, bởi nhu cầu được chăm sóc của những người thân không có nút tạm dừng, và thuật toán thì tuyệt nhiên không đoái hoài gì đến sự kiệt quệ của “đối tác” con người
Nền tảng buộc những người phụ nữ luôn ở trong trạng thái hối hả. Nó không cho phép độ trễ. Tin nhắn phải được phản hồi, cuốc xe phải được nhận, hàng cần phải giao đi. Nỗi sợ bị thuật toán “bóp tương tác” hay “giảm cuốc” buộc họ phải lao đi vun vút. Nền tảng không cần biết họ có đang phải cuống cuồng giặt vội chiếc chăn đứa nhỏ vừa nôn trớ, hay đang mang vác một chiếc bụng bầu 7 tháng. Cái “ting ting” của ứng dụng chính là một cơ chế kỷ luật ép buộc người ta phải luôn có mặt.
Trái ngược với tốc độ điện xẹt của thuật toán, công việc chăm sóc mà những người mẹ gánh vác lại mang một nhịp điệu chậm chạp hơn rất nhiều. Người ta không thể “tăng tốc” hay “tối ưu hóa” khi ru con ngủ, dỗ con khóc, đút cho con ăn, hay thức đêm ôm con trong bệnh viện. Nhịp độ của sự chăm sóc hoàn toàn lệch pha và đâm sầm vào thôi thúc tối ưu mọi thứ của công nghệ.
Đáng nói hơn, đối với những nữ tài xế công nghệ, sự bấp bênh không chỉ nằm ở áp lực thuật toán hay gánh nặng chăm sóc, mà nó còn là những mối đe dọa trực tiếp đến sự an toàn. Khảo sát thực tế đã chỉ ra những con số như gần 74% tài xế từng va chạm trên đường, hơn 65% từng đối mặt với lừa đảo, cướp giật hoặc quấy rối (theo khảo sát thực trạng của được công bố tại hội thảo “An sinh cho tài xế xe công nghệ – Thực trạng và Giải pháp, 2026”)
Hệ thống thuật toán cũng gần như phớt lờ những nhu cầu sinh lý của những tài xế có kỳ kinh nguyệt hay đang mang thai. Các ứng dụng không hề có tính năng tạm dừng riêng biệt cho phép tài xế đi vệ sinh hoặc thay băng mà không ảnh hưởng đến tỷ lệ nhận cuốc hay điểm thưởng. Trong những tình huống đó, tài xế nam đôi khi còn có thể tìm cách “giải quyết” vội vã bên lề đường. Với phụ nữ, đặc biệt là người đang mang thai hoặc đang trong kỳ kinh, những lựa chọn ấy không khả thi và cũng không đảm bảo an toàn. Họ có thể buộc phải nhịn, hoặc cố tìm một nhà vệ sinh công cộng hiếm hoi và chấp nhận bị thuật toán trừ điểm.
Họ quay cuồng giữa ca làm việc thứ nhất (lao động kiếm tiền ngoài xã hội), ca thứ hai (việc nhà và chăm sóc người thân) và ca thứ ba (lao động cảm xúc, duy trì quan hệ). Không công việc nào có thể tạm dừng, không nghĩa vụ nào thực sự kết thúc. Và khi đêm xuống, thay vì được nghỉ ngơi, người phụ nữ tiếp tục bị đẩy vào ca làm việc thứ tư.
Khái niệm “ca làm việc thứ tư” vốn được dùng để chỉ sự gián đoạn giấc ngủ ban đêm. Khi con quấy khóc, phụ nữ gần như luôn là người phải thức dậy để dỗ dành, nghiễm nhiên hy sinh nhu cầu ngủ nghỉ của chính mình. Nhưng trong kỷ nguyên số, ca làm việc thứ tư còn bị lấp đầy bởi những danh sách công việc kỹ thuật số. Ngay cả khi đã ngả lưng, họ vẫn nơm nớp mở điện thoại xem có chính sách thưởng mới nào từ hãng xe, tính toán xem ngày mai phải chạy từ mấy giờ để bù lại số tiền hôm nay bị hụt, hay thức chốt đơn hàng vì sợ bị đánh giá phản hồi chậm.
Bên dưới những vỏ bọc hào nhoáng của sự linh hoạt và tự nguyện, rủi ro phải đánh đổi về sức khỏe, an toàn, thời gian nghỉ ngơi và trách nhiệm chăm sóc đang đổ dồn lên vai những người lao động.
ĐƯỢC LÀ MỘT NGƯỜI LAO ĐỘNG
Có đến gần 93% tài xế tham gia khảo sát mong muốn nghề nghiệp và địa vị pháp lý được pháp luật công nhận. Mong muốn ấy không chỉ là câu chuyện về danh xưng. Bởi vì một khung pháp lý đặc thù cho lao động nền tảng là điều kiện thiết yếu để chấm dứt tình trạng đẩy toàn bộ rủi ro về phía những người lao động. Khi quyền và nghĩa vụ của người lao động được xác lập, các công ty sẽ phải chia sẻ trách nhiệm về Bảo hiểm Xã hội và Bảo hiểm Y tế. Đó là những quyền lợi cơ bản mà người lao động xứng đáng được hưởng, thay vì vắt kiệt họ dưới một danh xưng mỹ miều là “đối tác”.
Với lao động nữ, câu chuyện còn bắt đầu từ một điều cơ bản hơn, là quyền được làm việc trong an toàn. Những lao động nữ đã và đang phải đối mặt với tai nạn, quấy rối, bạo lực hoặc những tình huống khẩn cấp mà họ không thể tự mình xử lý. Những công cụ như nút SOS kết nối với cơ quan chức năng, tổng đài hỗ trợ khẩn cấp hay các cơ chế bảo vệ khi gặp sự cố cần được xem là một phần của tiêu chuẩn vận hành, thay vì những tính năng bổ sung có cũng được mà không có cũng không sao. Một nền tảng yêu cầu người lao động luôn sẵn sàng nhận việc cũng phải có trách nhiệm khi họ cần được bảo vệ.
Bên cạnh đó, vì đặc thù thu nhập của lao động nền tảng là bấp bênh, hệ thống an sinh cũng cần linh hoạt để thực sự đỡ đần được nhu cầu thiết yếu. Với những người không có một mức lương cố định, nghỉ làm để sinh con có thể đồng nghĩa với mất thu nhập, một lần ốm đau có thể đồng nghĩa với việc cố chịu để tiếp tục đi làm. Những chính sách thai sản hay hỗ trợ y tế thực chất là một sự bù đắp chính đáng, một sự đầu tư của xã hội nhằm chia sẻ khối lượng lao động chăm sóc mà đã luôn đặt lên vai người phụ nữ.
Cơ chế tính cước, phân bổ đơn hàng, tiêu chí đánh giá và khóa tài khoản cần đủ minh bạch để người lao động hiểu điều gì đang ảnh hưởng đến sinh kế của mình và có cơ hội khiếu nại khi xảy ra tranh chấp. Không thể để người lao động không biết vì sao hôm nay thu nhập của mình đột ngột sụt giảm, vì sao số cuốc xe nhận được cứ ít dần đi, hay tệ hơn, vì sao tài khoản của mình bị khóa vĩnh viễn. Các công ty có trách nhiệm để đảm bảo sinh kế của những con người bằng xương bằng thịt không thể bị thao túng và tước đoạt bởi những thuật toán mà họ đang trao quyền lực cho.
Nhiều người đã ca ngợi sự bùng nổ của nền kinh tế số như một bước nhảy vọt tất yếu và tốt đẹp của thời đại. Nhưng kể cả như thế, ta không thể mặc định sự kiệt quệ của người lao động là cái giá chính đáng cho sự phát triển ấy. Công nghệ thay đổi cách con người lao động, nhưng những quyền lợi của người lao động – quyền được trả lương xứng đáng, quyền được hưởng chế độ thai sản, quyền được làm việc trong điều kiện an toàn, và quyền được có thời gian chăm sóc gia đình mà không nơm nớp lo sợ mất đi sinh kế – là những thứ ta không thể mang ra đánh đổi.
Sự linh hoạt thực sự đang thuộc về ai? Một công việc chỉ thực sự linh hoạt khi người lao động có quyền kiểm soát thời gian của mình. Nếu họ phải luôn túc trực vì sợ mất thu nhập, thì cái được gọi là “linh hoạt” ấy chỉ là việc đẩy hết rủi ro và chi phí của công việc từ nền tảng sang người lao động. Và với những đang phải gánh phần lớn công việc chăm sóc không được trả lương, cái giá của sự chuyển dịch ấy là thời gian, sức khỏe và những giờ nghỉ ngơi vốn đã quá ít ỏi.
Tài liệu tham khảo:
1. Câu chuyện của chị Hoa được chia sẻ tại hội thảo An sinh cho tài xế xe công nghệ – Thực trạng và giải pháp do Trung tâm Tư vấn và hỗ trợ người lao động Công đoàn TP HCM tổ chức ngày 15/9 vừa qua.
Thông tin được tham khảo từ bài viết “Tài xế công nghệ đang ‘trả giá đắt cho giấc mơ linh hoạt'” đăng trên báo VnExpress ngày 15/9/2026
2. Câu chuyện và phân tích về nền kinh tế Nền tảng và lao động Chăm sóc được tham khảo từ nghiên cứu của tiến sĩ Nguyễn Thu Giang (2026) “Making Life ‘Platform Ready’: Care and Platform Economy beyond the Multisided Market.” đăng trên Journal of Cultural Economy.

