“LỰA MẤY THẰNG ĐÀNG HOÀNG TỬ TẾ MÀ YÊU”?!
Sau một vụ án nghiêm trọng, bài học mà người ta rút ra… lại là một lời cảnh báo đến nữ giới: “Hãy chọn người đàng hoàng mà yêu.” Bởi vì lựa chọn ấy ảnh hưởng đến tính mạng của người xung quanh.
Thực tế trong vụ việc bài viết đề cập, hung thủ đã mang hung khí, rình rập, đe dọa, đột nhập và lấy đi mạng sống của những người vô tội. Thế nhưng, người ta tập trung vào chuyện yêu đương của cô gái 17 tuổi, và răn đe những người “em gái” khác hãy cẩn thận lựa chọn cho đúng người?
Lựa chọn của người phụ nữ là thứ cần thay đổi, trong khi hành vi của kẻ ác biến mất khỏi câu chuyện. Chuyện cô ấy đã chọn ai, yêu ai trở thành vấn đề, trước cả câu hỏi tại sao kẻ ác lại cho mình quyền làm hại những người khác, và làm sao để ngăn chặn những tội ác này lặp lại?
ẢO TƯỞNG VỀ VIỆC “CHỌN ĐÚNG NGƯỜI”
“Lựa người đàng hoàng mà yêu” đứng đơn lẻ sẽ chẳng có vấn đề gì. Nó cũng giống như những dạng “hãy sống lành mạnh”, “hãy làm điều tốt”, vốn dĩ xuất phát từ mong muốn ở bên những người tử tế.
Nhưng khi đặt trong bối cảnh nơi mà phụ nữ liên tục phải đối mặt với bạo lực từ chính những người thân thiết – người yêu, chồng, bạn tình – thì lời khuyên này trở nên vô lý và tàn nhẫn đến tột cùng.
Vấn đề cốt lõi chính là giả định sai lầm rằng bạo lực là thứ có thể né tránh, miễn là người phụ nữ đủ khôn ngoan. Nó tạo ra tư duy nếu một người bị bạo lực, hẳn họ đã bỏ sót một dấu hiệu nào đó. Giá mà họ biết nhìn người hơn, bi kịch đã không xảy ra.
Nhưng thực tế cho thấy bạo lực vẫn xảy ra, bất kể một người có thể “khôn ngoan” và “biết nhìn người” đến thế nào.
Bởi vì làm sao ta có thể bắt một người nhìn thấu và tiên tri hành vi của người khác? Một kẻ bạo lực có thể vẫn hành xử tử tế trước khi có những hành vi độc hại. Và ngay cả khi nhận ra những dấu hiệu, điều đó không đồng nghĩa là ta có đủ điều kiện để rời đi an toàn. Bạo lực trong các mối quan hệ thân mật không phải lúc nào cũng bắt đầu bằng một kẻ xấu lộ nguyên hình ngay từ ngày đầu tiên.
Chuyện phụ nữ phải chịu bạo lực trong mối quan hệ không phải sự cố đơn lẻ, càng không thể bị đơn giản hóa thành hậu quả của việc “chọn sai người”. Trên quy mô toàn cầu, không gian gia đình hay những mối quan hệ tình cảm – nơi vốn dĩ được kỳ vọng là an toàn nhất – lại chính là nơi người phụ nữ phải đối mặt với rủi ro bị bạo hành cao nhất.
Theo Kết quả Điều tra Quốc gia về Bạo lực đối với Phụ nữ tại Việt Nam, cứ gần 3 phụ nữ Việt Nam thì có tới 2 người (62,9%) từng trải qua ít nhất một hình thức bạo lực, dù là thể xác, t*nh d*c, tinh thần, kinh tế hay bị kiểm soát hành vi, do chính người chồng hoặc bạn tình gây ra trong đời.
Đây hoàn toàn không phải là câu chuyện về một vài người phụ nữ “chọn nhầm người” giữa một xã hội mà mọi người khác đều an toàn. Nó có quy mô quá lớn, lặp đi lặp lại, và hậu quả quá nghiêm trọng để tiếp tục bị gạt đi bằng cách quy chụp trách nhiệm cho sự “thiếu khôn ngoan” của nữ giới.
Lối tư duy “phải chọn đúng người” tai hại vì nó ngầm coi bạo lực như hiện tượng thiên nhiên bất khả kháng. Nó giống như một cơn giông bão hay một con thú hoang. Nếu một con gấu hoang tấn công người trong rừng, ta có thể nói rằng đáng lẽ người đó phải cẩn thận hơn.
Nhưng kẻ bạo hành không phải là thú hoang, và bạo lực không phải là thiên tai. Khi xem bạo lực như một hiện tượng tự nhiên không thể kiểm soát, chúng ta đồng thời tước bỏ tư cách chủ thể, trách nhiệm pháp lý và đạo đức của thủ phạm. Ta cũng không còn nghĩ về chuyện làm sao để ngăn chặn những hành vi bạo lực tiếp diễn trong tương lai.
Hệ quả là toàn bộ bài toán phòng ngừa bạo lực bị đẩy sang phía người dễ bị tổn thương. Giờ thì chúng ta có trách nhiệm phải tự bảo vệ mình. Thay vì tập trung vào hành vi của kẻ ác, dư luận đào xới quá khứ, cách ăn mặc, độ tuổi hẹn hò, cách cư xử, thời điểm rời đi hay những quyết định của người bị hại. Người bị bạo hành bị hỏi tại sao yêu người như thế? Người bị QRTD bị hỏi tại sao lại uống rượu, đi khuya, ăn mặc như vậy? Sự an toàn của một con người dần bị biến thành một bài kiểm tra về khả năng dự đoán và phòng tránh của chính họ.
Nếu một người im lặng chịu đựng, người ta hỏi tại sao không lên tiếng. Nếu họ phản kháng, người ta hỏi liệu họ có “kích động” đối phương hay không. Nếu bạo lực diễn ra lặp đi lặp lại, người ta hỏi tại sao không rời đi. Nếu không còn gì để đổ lỗi, họ sẽ tự tạo ra, vì “không có lửa làm sao có khói”. Đến cuối cùng, bất kể họ lựa chọn thế nào, trách nhiệm vẫn có thể được quay ngược về phía họ.
Cơ chế đổ lỗi này dung túng cho cái ác. Một mặt, nó cung cấp cho kẻ bạo hành cái cớ để hợp thức hóa hành vi của mình (“do cô ta kích động tôi”, “do cô ta ăn mặc hở hang”), từ đó rũ bỏ trách nhiệm cho hành vi sai trái mình gây ra. Mặt khác, nó đẩy người bị bạo lực vào thế bế tắc. Dù họ im lặng chịu đựng, phản kháng, hay quyết liệt rời đi, mọi quyết định của họ đều có thể bị xem là “nguyên nhân” dẫn đến bạo lực.
NGHỊCH LÝ “TỰ BẢO VỆ MÌNH”
Suốt một thời gian dài, những lời khuyên về an toàn gần như đặt gánh nặng lên vai phụ nữ. Họ phải học cách tự bảo vệ mình, cách nhận diện “cờ đỏ”, cách phát hiện dấu hiệu thao túng, cách khéo léo để không “kích động” đối phương. Họ được dạy phải cẩn thận với người lạ, cẩn thận khi đi một mình, cẩn thận khi uống rượu, cẩn thận với quần áo mình mặc, cẩn thận với người mình yêu, thậm chí cẩn thận cả với cách mình từ chối một người.
Học cách nhận diện rủi ro là điều cần thiết, với bất kỳ ai, nhưng đó không phải cách giải quyết với vấn nạn bạo lực. Nếu lời giải chỉ là phụ nữ phải cẩn trọng hơn, ta đang bỏ qua câu hỏi quan trọng nhất, về nguồn cơn của bạo lực. Tại sao chỉ dạy người có nguy cơ bị hại cách tránh né, mà không yêu cầu tất cả mọi người không được trở thành người gây hại?
Bởi nếu một người phụ nữ nhận ra các dấu hiệu độc hại và rời bỏ mối quan hệ bạo lực, con người kia không biến mất. Họ vẫn ở đó, và vẫn có thể bước vào một mối quan hệ khác. Một ai đó có thể trở thành người yêu, vợ, chồng, bạn tình hoặc người sống cùng họ. Việc ráo riết khuyên phụ nữ hãy tránh xa đôi khi chỉ biến sự an toàn thành một trò xác suất. Nếu người này đủ may mắn để tránh được, mối nguy hiểm sẽ chuyển sang một người khác. Ta có thể may mắn tránh khỏi mối quan hệ, nhưng nguồn cơn của bạo lực vẫn còn nguyên ở đó, chờ một người khác bước vào.
BẢO VỆ LẪN NHAU
Sự bảo vệ căn cơ hơn vì thế phải bắt đầu từ việc xây dựng một văn hóa tôn trọng ranh giới và sự đồng thuận. Điều này không nên được dạy như bộ kỹ năng đặc biệt dành riêng cho phụ nữ, mà phải trở thành kiến thức căn bản mà mọi người đều được học từ nhỏ. Cơ thể của mình thuộc về mình, và cơ thể của người khác thuộc về họ. Không ai có quyền xâm phạm người khác chỉ vì tò mò, đang yêu, đang giận dữ hay viện cớ mối quan hệ đủ thân mật để làm vậy.
Trong một mối quan hệ, yêu nhau không có nghĩa là sở hữu nhau. Đồng ý hẹn hò không có nghĩa là đồng ý với mọi đụng chạm. Đồng ý quan hệ tình dục một lần không có nghĩa là đồng ý cho những lần sau. Đồng ý với một hành vi không có nghĩa là đồng ý với tất cả những hành vi khác. Và một sự đồng ý có thể được rút lại bất cứ lúc nào. Một người chồng phải hiểu rằng vợ mình không phải tài sản, và hôn nhân không trao cho anh ta quyền đối với cơ thể của cô ấy. Và bất kỳ ai cũng cần hiểu rằng cơn giận của mình là trách nhiệm của mình, chứ không phải một cái cớ để làm tổn thương người khác.
Chừng nào xã hội vẫn lãng mạn hóa sự chiếm hữu và ghen tuông kiểm soát như những biểu hiện của tình yêu, những hành vi bạo lực vẫn sẽ tiếp tục được tự hợp lý hóa. “Anh làm vậy vì yêu em”, “anh chỉ sợ mất em”, “em là của anh” nghe giống những câu thoại trong câu chuyện tình, cho đến khi chúng trở thành lý do để kiểm tra không gian riêng, kiểm soát các mối quan hệ, đe dọa, thao túng, dùng vũ lực và ngăn cản họ rời đi. Đằng sau những hành vi ấy rất có thể là niềm tin nguy hiểm hơn, rằng mình có quyền sở hữu người khác.
Hơn thế nữa, dù một cá nhân có khôn ngoan đến đâu, nỗ lực tự bảo vệ sẽ vô nghĩa nếu thiếu đi sự can thiệp từ pháp luật ngay khi nhận diện nguy cơ. Khi một người bị rình rập, hay đe dọa bạo lực, đó phải được xem là tình trạng cần được hỗ trợ ngay lập tức. Cơ quan chức năng cần có đủ công cụ pháp lý để lập tức can thiệp, từ việc triệu tập răn đe đến ban hành lệnh cấm tiếp xúc khẩn cấp.
Bởi “hãy rời đi” cũng không phải lúc nào là một lời khuyên ta có thể làm theo. Người bị bạo lực có thể phụ thuộc tài chính, có con nhỏ, không có nơi để đi, bị theo dõi, bị đe dọa, hoặc biết rằng chính thời điểm họ tìm cách rời khỏi mối quan hệ có thể là lúc nguy hiểm gia tăng. Nếu câu trả lời duy nhất của xã hội là “sao không bỏ đi?”, ta đang trực tiếp đẩy nạn nhân vào đường cùng. Chúng ta đang yêu cầu một người đang ở trong tình trạng nguy hiểm tự mình giải quyết toàn bộ bài toán mà đáng lẽ cộng đồng, các cơ quan bảo vệ và hệ thống pháp luật phải cùng gánh vác.
Và cộng đồng cũng có một vai trò rất cụ thể. Bởi sự bàng quan và thói quen đổ lỗi của đám đông gây tổn thương cho cả người bị hại lẫn xã hội. Mỗi một bình luận soi mói, mỗi một sự hoài nghi hướng về phía người bị hại không chỉ khiến họ thêm tổn thương, mà còn trực tiếp ép những người khác không thể lên tiếng.
Chúng ta cần khước từ những thực hành dung túng cho bạo lực. Ta không coi những lời đe dọa chỉ là chuyện đùa. Ta không ép người khác phải nhẫn nhịn cho êm nhà êm cửa. Ta không yêu cầu họ quay lại chỉ vì gia đình thì phải giữ. Và nếu những vụ việc thế này vẫn xảy ra, ta không đổ lỗi ngược lại nạn nhân, và biện minh cho hành động của kẻ ác.
Một xã hội không thể giảm bạo lực bằng cách bắt phụ nữ phải trở thành chuyên gia tâm lý, giỏi nhìn người, mặc kín đáo, về nhà sớm, không uống rượu say và biết cả… dự đoán tương lai, và rồi xem đó là điều kiện để họ được an toàn. Đó phải là nơi một người có thể nói “không”, có thể chia tay, có thể đặt ra ranh giới và có thể sống một cuộc đời mà không phải chịu trách nhiệm cho quyết định bạo lực của một người khác.
Chúng ta cần dạy con người cách tự bảo vệ mình. Nhưng cùng lúc, chúng ta phải dạy con người cách tôn trọng ranh giới của người khác, chấp nhận sự từ chối, đối diện với thất vọng mà không biến nó thành bạo lực, và hiểu rằng yêu một người không bao giờ trao cho mình quyền sở hữu họ.
Bởi sau cùng, câu hỏi cần được đặt ra không phải là “Tại sao cô ấy không chọn người tử tế mà yêu”, mà cần phải là “Tại sao một người lại nghĩ rằng mình có quyền làm hại người khác, và xã hội phải làm gì để ngăn điều đó xảy ra?”


