SINH ĐỦ CON – TRÁCH NHIỆM VỚI XÃ HỘI HAY TRÁCH NHIỆM CỦA XÃ HỘI?

Trong nhiều diễn ngôn khuyến sinh hiện nay, sinh con đã trở thành một loại trách nhiệm. Đó là trách nhiệm của con cái với gia đình, của công dân với xã hội, và của cá nhân với tập thể. Cách tiếp cận này là bước tiếp nối của những quan niệm thâm căn cố đế về “thiên chức” sinh đẻ, về nghĩa vụ phải có con nối dõi, hay bản năng tự nhiên của giống loài.

“Đẻ con cho xong đi!” như người ta hay khuyên bảo những người khác. Dưới lăng kính này, sinh con trở thành một TRÁCH NHIỆM CẦN HOÀN THÀNH. Người trẻ cần phải làm, trước hết là với gia đình riêng, sau đó là cho xã hội chung.

Hệ quả là, những người chọn không có con dễ bị nhìn nhận như những cá nhân ích kỷ, vô trách nhiệm, đi ngược lại tạo hóa, hay thậm chí mang nợ điều gì đó chưa trả.

Nhưng người trẻ có đang “nợ” xã hội những đứa trẻ không?

CƠ THỂ RIÊNG GÁNH VÁC TRÁCH NHIỆM CHUNG

Quan điểm coi sinh đẻ là trách nhiệm với xã hội thường xuất hiện mạnh mẽ trong bối cảnh tỷ lệ sinh giảm sút. Theo Báo cáo tình trạng dân số thế giới (UNFPA, 2025), khi mức sinh ở nhiều quốc gia châu Á và châu Âu có xu hướng giảm mạnh, các nhà quản lý và hoạch định chính sách đã nhấn mạnh nó như một mối đe dọa. Theo đó, sự biến đổi về đặc điểm nhân khẩu học sẽ dẫn đến tình trạng mất an ninh, bất ổn kinh tế và đứt gãy thị trường lao động.

Giới truyền thông ở nhiều nơi cũng đã nhanh chóng thổi bùng nỗi lo này, biến tỷ lệ sinh giảm trở thành một “cuộc khủng hoảng” mang tính sống còn, đe dọa đến tương lai của quốc gia, thậm chí cả nhân loại.

Chính từ đây, chuyện ai đó có đẻ hay không vượt ra khỏi cơ thể cá nhân, và trở thành mối lo chung của xã hội. Số lượng những đứa trẻ ra đời trở thành một chỉ tiêu cần đẩy lên, nhằm duy trì tiến trình phát triển của xã hội. Sinh con hay không trở thành một quyết định đạo đức. Người sinh đủ con được nhận thưởng và vinh danh, người không sinh con chịu sự chỉ trích và phê bình.

Chẳng hạn, tại Anh vào đầu những năm 2000, truyền thông từng định hình quyết định sinh con của phụ nữ như một “trách nhiệm bảo vệ bản sắc dân tộc” trước làn sóng nhập cư. Ở Ý hay Mỹ, các diễn ngôn đại chúng đôi khi còn đặt dấu hỏi về tính đạo đức và sự lý trí của những phụ nữ từ chối làm mẹ. Tại một số quốc gia như Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ hay Hungary, các dịch vụ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) do nhà nước tài trợ còn được quảng bá như một công cụ để khuyến khích phụ nữ “đóng góp những đứa trẻ cho sức mạnh của đất nước”. (Bajaj, Nandita, và Kirsten Stade, 2023)

Điều đáng nói là, trong rất nhiều diễn ngôn như vậy, xã hội thường chỉ xuất hiện ở vị trí của bên nhận thành quả. Người ta mong chờ những đứa trẻ lớn lên khỏe mạnh để trở thành người lao động, người đóng thuế, người tiêu dùng, người duy trì guồng quay kinh tế. Nhưng quá trình nuôi dưỡng và chăm sóc những đứa trẻ ấy lại chủ yếu bị đẩy về phía trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là phụ nữ.

Thật trớ trêu khi những người phụ nữ vừa “hoàn thành trách nhiệm với xã hội”, rồi lại bị chính xã hội ấy áp lên những “hình phạt”. Sau khi làm mẹ, họ phải gánh thêm khối lượng công việc chăm sóc khổng lồ. Đồng thời phải đối mặt với nguy cơ bị chững lại trong sự nghiệp, mất cơ hội thăng tiến, bị đánh giá kém cam kết hơn với công việc, thậm chí bị đào thải khỏi thị trường lao động sau kỳ thai sản.

Nói cách khác, một trách nhiệm ở cấp độ xã hội lại đang được thực hiện bằng thời gian và tiền bạc của cá nhân, đang được đánh đổi bằng cơ thể và tương lai của người phụ nữ.

CẦN CẢ MỘT NGÔI LÀNG ĐỂ NUÔI LỚN MỘT ĐỨA TRẺ

Ta có lẽ đều cần biết đến câu ngạn ngữ “Cần cả một ngôi làng để nuôi lớn một đứa trẻ.” Nó nhấn mạnh rằng việc chăm sóc trẻ là việc chung của cả cộng đồng, thay vì chỉ của cha/mẹ đứa trẻ.

Ở trong ngôi làng ấy, trẻ em lớn lên giữa mạng lưới dày đặc của ông bà, cô dì, hàng xóm, và cộng đồng xung quanh. Một đứa trẻ được quan sát, dạy dỗ, chăm nom và bảo vệ bởi rất nhiều người khác nhau. Khi cha mẹ lao động, luôn có những người khác cùng tham gia vào việc săn sóc đứa trẻ ấy.

Nói cách khác, con người từ lâu đã nhận ra rằng việc nuôi nấng một đứa trẻ là công việc quá lớn để cá nhân đơn lẻ có thể gánh vác.

Trong thời đại công nghiệp hóa, ta không còn nhiều những ngôi làng truyền thống với sự gắn kết họ hàng xóm giềng như trước đây nữa. Nhưng những nỗ lực tập thể để nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ thì vẫn luôn cần phải có. Trong thế giới hiện đại, “ngôi làng” ấy mang hình hài của mạng lưới an sinh, của các chính sách phúc lợi, và sự chung tay từ cả Nhà nước, Cộng đồng lẫn khối Doanh nghiệp.

Thực tế, khát khao được làm cha mẹ vẫn luôn tồn tại. Người trẻ trên khắp thế giới vẫn đang đấu tranh để thực hiện mong muốn sinh con. Xã hội không thể lôi họ ra chì chiết, đổ lỗi, và bắt họ phải tự mình giải quyết cuộc khủng hoảng vĩ mô này.

Nếu xã hội coi những đứa trẻ là nguồn lực thúc đẩy phát triển cho tương lai, thì việc kiến tạo môi trường cho đứa trẻ đó lớn lên rõ ràng phải được xem là một “dự án công”, tức là trách nhiệm CỦA toàn xã hội.

Đó có thể là việc quy hoạch để xây dựng hệ thống trường công lập đủ chỗ và chất lượng. Là đảm bảo người trẻ có thể có công việc ổn định và không gian sống đáp ứng nhu cầu gia đình. Về phía khối doanh nghiệp, trách nhiệm ấy thể hiện qua việc cung cấp thời gian làm việc linh hoạt, bảo đảm chế độ thai sản cho cặp phụ huynh, và từ bỏ lối tư duy coi chuyện chửa đẻ là vấn đề riêng của người lao động.

Một xã hội chỉ có thể thuyết phục người dân sinh con, khi chính nó chứng minh được rằng nó là một “ngôi làng” vững chãi, an toàn, và đủ bao dung để nâng đỡ những đứa trẻ được sinh ra.

Nếu sinh con là trách nhiệm xã hội, vậy nuôi con và chăm con cũng nên là như vậy.

Tài liệu tham khảo:

– UNFPA (Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc), 2025. “Cuộc khủng hoảng thực sự về sinh sản: Theo đuổi quyền tự quyết về sinh sản trong một thế giới đang thay đổi.” Tình trạng dân số thế giới năm 2025.

– Bajaj, Nandita, and Kirsten Stade. 2023. “Challenging Pronatalism Is Key to Advancing Reproductive Rights and a Sustainable Population”. The Journal of Population and Sustainability 7 (1):39-70.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

viVietnamese