NẾU KHÔNG CÓ PHỤ NỮ Ở LẠI, NHIỀU LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG ĐÃ BẶT TIẾNG TỪ LÂU

Trong bối cảnh sản xuất công nghiệp chiếm ưu thế, nhu cầu thị trường thay đổi, người trẻ hiếm khi nối nghề vì thu nhập bấp bênh, có những người phụ nữ vẫn vừa chăm lo gia đình, vừa tranh thủ từng khoảng thời gian để làm nghề. Thu nhập từ nghề chưa chắc đã đủ trang trải cuộc sống, nhưng với họ, giữ nghề còn là giữ lại cơ nghiệp của gia đình và dòng họ, giữ lại một phần ký ức và bản sắc của cộng đồng mình.

Khi nhắc đến một di sản hàng trăm năm, chúng ta thường nhớ tên một làng nghề, biết đến một sản phẩm nổi tiếng, tự hào về một kỹ thuật thủ công độc đáo. Nhưng ta cũng cần phải nhớ những gương mặt, những con người vẫn kiên trì bám trụ để giữ cho di sản ấy không bị đứt gãy, mai một.

Nhân ngày Phụ nữ Việt Nam, chúng mình hãy cùng nhau kể về những người phụ nữ như thế. Bởi có thể, ngay trong chính gia đình, quê hương, nơi chúng ta đang sống hay từng đặt chân đến, cũng có một người bà vẫn giữ bí quyết làm nghề truyền thống mà ít ai biết đến; một người mẹ đã dành cả đời bên khung cửi, bàn thêu hay lò gốm; một người phụ nữ không quản những chuyến đi xa đưa sản phẩm của địa phương có cơ hội được tiếp cận thị trường mới để cả làng có thêm cơ hội sống bằng nghề, v.v.

Kể về những người phụ nữ ấy, cũng để nhắc nhở chúng ta rằng, sự phát triển của một làng nghề hay của một di sản không thể chỉ dựa vào sự hy sinh của vài người còn bám trụ. Nếu người giữ nghề không thể sống bằng nghề, nếu những kỹ năng quý giá chỉ còn nằm trong đôi tay của một vài nghệ nhân lớn tuổi, thì những gì chúng ta tự hào hôm nay có thể trở thành điều chỉ còn được nhắc lại trong ký ức ngày mai.

NGHỆ NHÂN NGUYỄN THỊ OANH

Hơn nửa thế kỷ gắn bó với tranh Đông Hồ, nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh đứng giữa điểm giao đặc biệt của gia đình, nghệ thuật và thời cuộc.

Ở làng tranh Đông Hồ, Bắc Ninh, đã có một thời gần như cả làng làm tranh. Chính từ ngôi làng ấy mà những bức Đám cưới chuột, Đàn lợn âm dương, Gà mẹ gà con dần trở thành một phần ký ức văn hóa của người Việt. Thế nhưng, khi tranh dân gian ngày càng khó tiêu thụ, khi những sản phẩm làm ra không còn mang lại nguồn thu nhập đủ để người thợ yên tâm gắn bó, nhiều gia đình đã rời bỏ nghề. Từ 17 dòng họ từng làm tranh, làng nghề dần thu hẹp, chỉ còn lại 3 gia đình. Cô Oanh, đặc biệt thay, lại là người kế thừa di sản của cả hai gia đình Nguyễn Hữu và Nguyễn Đăng.

Trong quan niệm sáng tác của cô Oanh, giữ gìn truyền thống không đồng nghĩa đóng khung trong quá khứ hay lặp lại nguyên bản những gì người xưa từng làm. Cô quan niệm một nghệ nhân “phải bảo tồn và phải phát huy rất là nhiều cái mới”. Chính vì thế mà từ nhiều năm trước, cô đã luôn hướng tới những mẫu mới cho tranh Đông Hồ. Cô mở ra những con đường mới để những bức tranh dân gian có thể đến được với người trẻ hiện đại.

Cô không ngừng tạo ra những tác phẩm mới, về cả nội dung lẫn hình thức. Các cụ ngày xưa chưa vẽ hết 12 con giáp, vậy nên cô đã vẽ thêm con khỉ, con dê, con chó để hoàn thiện bộ tranh. Cô đã mượn năm tuổi Canh Tý của mình để sáng tác bức “Chuột đón xuân” với hình tượng hai con chuột trao nhau trái đào tiên, thay vì giữ nguyên góc nhìn trào phúng của tác phẩm “Đám cưới chuột” cổ. Tác phẩm mang ý nghĩa về một mùa xuân mới tràn đầy niềm hy vọng và niềm vui. Cô muốn tranh hướng con người đến cái đẹp. Cô không muốn vẽ những điều buồn và xấu.

Ròng rã suốt hơn 60 năm cuộc đời, qua bao nhiêu thăng trầm, điều duy nhất không thay đổi là tình yêu của cô Oanh với đam mê thuở bé của mình. Cô đã vẽ từ khi còn là một học sinh, mê tranh đến mức bỏ học. Cô đã vẽ trong những đợt trả lương bằng công điểm quy ra thóc gạo, vẽ cả trong những năm thời tiết thất bát mất mùa. Xã hội đổi mình, văn hóa đổi thay, hết người này đến người kia bỏ nghề, cô vẫn vẽ. Nhiều người dùng giấy in máy tính để làm tranh, cô vẫn cặm cụi với giấy điệp và cọ vẽ. Lấy chồng, sinh con, nuôi con ăn học, rồi tiếp tục chăm cháu, cô vẫn vẽ. Sau những danh hiệu danh giá, những sự kiện nghệ thuật quốc gia và quốc tế, cô vẫn trở về cặm cụi với cọ vẽ, giấy điệp và khuôn tranh. Tình yêu với những bức tranh, sau cùng, vẫn vẹn nguyên như ban đầu.

Nguồn ảnh: Art Nam Gallery 

NGHỆ NHÂN PHÚ THỊ MỸ XINH

Ở làng gốm Bàu Trúc của người Chăm (huyện Ninh Phước, Ninh Thuận trước đây), nghề làm gốm được truyền từ mẹ sang con qua nhiều thế hệ. Từ khi còn nhỏ, chị Phú Thị Mỹ Xinh đã theo bà, theo mẹ tập nặn đất, làm quen với những chiếc chum, chiếc vại và những sản phẩm gốm mộc mạc gắn liền với đời sống của người dân trong làng. Hơn 40 năm gắn bó với nghề, chị không chỉ tiếp nối kỹ thuật của các thế hệ đi trước, mà còn tìm cách đưa nghề gốm Bàu Trúc đi xa hơn.

Những năm cuối thế kỷ trước là giai đoạn đầy thử thách đối với nghề gốm truyền thống. Đồ gia dụng công nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều khiến các sản phẩm gốm dân dụng dần mất chỗ đứng. Thu nhập giảm sút, nhiều gia đình trong làng bỏ nghề, thanh niên lần lượt rời quê đi xa làm ăn.

Có thời gian, người ta nói nghề gốm rồi sẽ mất.
Anh Vạn Quan Phú Đoan, chồng chị Xinh, vẫn nhớ những năm tháng kinh tế gia đình vô cùng khó khăn. “Nhiều người khuyên bỏ nghề để làm việc khác ổn định hơn. Nhưng vợ tôi không đồng ý. Cô ấy nói nếu thế hệ mình bỏ gốm thì sau này con cháu sẽ không còn biết nghề tổ tiên là gì nữa”, anh Đoan chia sẻ.

Là giáo viên, cũng vì yêu gốm, anh Đoan quyết định rời bục giảng để cùng vợ thành lập doanh nghiệp sản xuất gốm đầu tiên ở làng Bàu Trúc. Từ những sản phẩm dân dụng quen thuộc, họ chuyển sang phát triển dòng gốm mỹ nghệ, đưa sản phẩm đi khắp các hội chợ, triển lãm văn hóa trong nước.

Nhưng bước đi táo bạo hơn của chị Xinh là thử sức với những chiếc bình gốm liền khối có kích thước khổng lồ. Với kỹ thuật làm gốm thủ công của người Chăm, đôi chân thay cho chuyển động của bàn xoay, đôi tay quyết định hình dáng và độ dày của sản phẩm thay cho khuôn đúc, việc tạo hình một chiếc bình cao hơn một mét đã là thử thách lớn. Đất phải đủ độ ẩm phù hợp, thành gốm cần đủ độ dày và cân đối, bởi chỉ một sai lệch nhỏ cũng có thể khiến sản phẩm nứt vỡ.

Sau nhiều lần thất bại, những chiếc bình khổng lồ cuối cùng cũng thành hình. Cặp bình gốm liền khối cao hơn 2 mét, đắp nổi hình thần Shiva do chị Xinh chế tác đã được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục là chiếc bình gốm Bàu Trúc cao nhất Việt Nam. Đặc biệt, những sản phẩm gốm do chị thực hiện còn được lựa chọn trưng bày tại Rabat, Maroc, trong kỳ họp lần thứ 17 của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước UNESCO năm 2022, thời điểm nghệ thuật làm gốm của người Chăm chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.
“Khi nghe tin ấy, cả làng như có hội. Đó không chỉ là niềm vui của người làm gốm mà là niềm vui của cả cộng đồng người Chăm”, chị Xinh xúc động nhớ lại.

Nguồn nội dung và ảnh: Chuyên trang Công lý & Xã hội 

NGHỆ NHÂN VÀNG THỊ MAI

Ở xã Lùng Tám, nơi sinh sống lâu đời của đồng bào dân tộc Mông thuộc Hà Giang trước đây, dệt lanh không đơn thuần là một nghề thủ công, mà còn là trái tim của đời sống văn hóa, gắn với trang phục, phong tục và những tri thức được truyền qua nhiều thế hệ.

Se lanh, dệt vải được xem là chuẩn mực để đánh giá sự khéo léo, chăm chỉ và tài năng của người phụ nữ Mông. Theo phong tục, khi đến tuổi trưởng thành, các cô gái được gia đình chia cho mảnh đất nhỏ để trồng lanh. Trước khi đi lấy chồng, người con phải biết tự se lanh, dệt vải và may sắm cho mình một bộ trang phục hoàn chỉnh. Vì thế, chị em ở đây đều thành thạo công việc dệt lanh từ nhỏ. Song, đây vẫn chỉ là công việc lúc nông nhàn. Khi trở thành vợ, họ sẽ không làm công việc bên ngoài, mà tập trung làm nương rẫy, chăm con cái, lo cơm nước trong gia đình.

Chứng kiến nhiều phụ nữ Mông phải chịu cảnh bị coi nhẹ trong gia đình, bà Vàng Thị Mai luôn đau đáu phải làm điều gì đó để chị em tự đứng lên bằng chính sức lao động của mình. Năm 2001, từ số vốn 13 triệu ít ỏi, bà Mai đã cùng những nghệ nhân lớn tuổi trong cộng đồng thành lập Hợp tác xã Lanh Lùng Tám với hơn 10 thành viên.

Thời điểm ấy, việc phụ nữ đi làm tập trung còn xa lạ với người Mông. Không ít người dị nghị, ngăn cản, thậm chí có người bị chồng đánh đập không cho đi làm. Bà Mai đến từng nhà trò chuyện, phân tích cho những người chồng hiểu rằng, khi người vợ có thu nhập thì gia đình cũng bớt khó khăn, con cái được ăn học đầy đủ hơn.

Dần dần, bà tập hợp được những người phụ nữ nghèo, không có việc làm được trả lương, trẻ mồ côi, người già có tay nghề,… Mỗi sản phẩm bán được, bà Mai trích ra một phần để trả công cho các nghệ nhân dạy nghề cho lớp trẻ.

Những ngày đầu khi mới thành lập hợp tác xã (HTX), bà Mai không chờ khách hàng tự tìm đến. Bà mang vải xuống Hà Nội, tìm từng cửa hàng lưu niệm, giới thiệu sản phẩm với những người có thể trở thành khách hàng. Có lúc, sự khác biệt trong trang phục và cách giao tiếp khiến bà gặp những ánh nhìn nghi ngại, thậm chí bị xua đuổi.

Bà Mai cũng không giữ nghề bằng cách làm mãi theo những mẫu cũ. Bất kỳ du khách nào, kể cả trong nước và quốc tế, mua hàng tại HTX, bà Mai đều cẩn thận ghi chép lại thông tin cá nhân và xin ý kiến đánh giá của khách hàng, chia sẻ cảm nhận về sản phẩm vào trong cuốn sổ. Hàng tháng, HTX sẽ họp và dựa trên đánh giá của khách hàng để cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Đến nay, sản phẩm dệt lanh của HTX Lùng Tám đã được xuất đi cả nước và 20 đối tác quốc tế, chủ yếu ở thị trường châu Âu. Thành quả này giúp đầu ra của sản phẩm bền vững hơn, góp phần biến Lùng Tám trở thành địa điểm du lịch văn hóa nổi tiếng. Từ đó, chị em nơi đây có sinh kế ổn định, cải thiện vị thế trong gia đình và xã hội, đồng thời nâng đỡ những phụ nữ từng có hoàn cảnh éo le (như từng bị lừa bán) có thể từng bước hòa nhập lại với cộng đồng.

Nguồn nội dung và ảnh: Báo Thanh niên, Báo Dân trí 

NGHỆ NHÂN PHAN THỊ THUẬN

Bà Phan Thị Thuận sinh ra trong một gia đình có 4 đời làm nghề dệt tại Phùng Xá, Mỹ Đức, Hà Nội. Phùng Xá từng là một vùng trồng dâu, nuôi tằm và dệt lụa phát triển mạnh. Nhưng từ những năm 1980, khi sản phẩm tơ lụa công nghệ chiếm ưu thế, nghề truyền thống dần mất lợi thế. Năm 1984, hợp tác xã nông nghiệp tại địa phương phải chuyển diện tích trồng dâu sang cây lương thực, nhiều người làm nghề dệt phải đi tìm sinh kế khác. Những khung cửi từng tạo nên nhịp sống tại Phùng Xá dần thưa tiếng.

Bà Thuận hiểu rằng, nếu chỉ dựa vào ký ức về một thời hoàng kim sẽ không thể giúp nghề tồn tại. Vì vậy, bà tiếp tục làm nghề dâu tằm, đồng thời tìm hướng nâng cao giá trị sản phẩm và tạo thêm công việc cho người lao động địa phương. Hướng đi mới lại chẳng đến từ đâu xa xôi, bà Thuận tìm thấy ý tưởng từ chính nguồn nguyên liệu quê hương sẵn có: những cuống sen sau thu hoạch phần lớn bị bỏ đi.

Bà tự nghiên cứu cách rạch cuống sen, rút tơ sao cho không đứt, nối và se những sợi tơ mảnh thành sợi đủ độ dày để dệt. Sau khoảng 2 năm, những chiếc khăn tơ sen đầu tiên mới ra đời.

Để làm một chiếc khăn lụa tơ sen dài khoảng 1,7 mét cần tới 4.800 cuống sen. Việc khai thác tơ phải được thực hiện khi thân sen còn tươi, sau đó người thợ mới có thể rút sợi và tiếp tục các công đoạn xử lý, se sợi, dệt và hoàn thiện sản phẩm. Lụa tơ sen vì thế không phải sản phẩm có thể cạnh tranh với hàng công nghiệp bằng giá rẻ hay số lượng lớn. Giá trị của nó nằm ở kỹ thuật thủ công, thời gian lao động và sự độc đáo của chất liệu.

Năm 2019, sản phẩm lụa tơ sen được lựa chọn làm quà tặng Việt Nam tại Hội nghị Thượng đỉnh G20 ở Nhật Bản. Thành quả này giúp một sáng tạo từ nguyên liệu bản địa tiếp cận công chúng quốc tế, đồng thời mở ra hướng phát triển mới cho nghề thủ công ở Phùng Xá.

Nguồn nội dung và ảnh: Báo Quân đội nhân dân, Trang tin Truyền thông Trẻ 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

en_USEnglish