JOCELYN BELL BURNELL – NHƯ NGỌN HẢI ĐĂNG XUYÊN QUA ĐỊNH KIẾN

Khi Giải thưởng Nobel năm 1974 vinh danh khám phá thiên văn lịch sử của thời đại – sự tồn tại của Sao xung (Pulsar) – tên của người phát hiện ra nó đã không được xướng lên.

Bất chấp sự thật rằng Jocelyn Bell Burnell chính là người trực tiếp tham gia chế tạo kính viễn vọng, rạp người dò dẫm từng centimet trên hàng kilomet giấy dữ liệu, kiên quyết theo đuổi vệt tín hiệu kỳ lạ khi giáo sư hướng dẫn gạt bỏ đi, cô khi ấy vẫn không được công nhận cho phát hiện lịch sử của mình.

Khi khám phá này trở thành tâm điểm chú ý, báo chí vây quanh vị giáo sư hướng dẫn để hỏi về ý nghĩa khoa học của khám phá. Và rồi họ hỏi Jocelyn về số đo ba vòng, màu tóc, và bảo cô cởi bớt vài chiếc cúc áo để chụp hình.

Không để những bất công và định kiến ấy bó buộc cuộc đời mình, Jocelyn bền bỉ bước tiếp và trở thành một trong những nhà vật lý thiên văn có tầm ảnh hưởng toàn cầu.

Nửa thế kỷ sau khám phá lịch sử, Jocelyn bước lên bục nhận Giải thưởng Đột phá (The Breakthrough Prize) danh giá. Người phụ nữ ấy sau đó đã quyết định đóng góp toàn bộ số tiền 3 triệu USD để tài trợ cho các nữ nghiên cứu sinh và nhóm yếu thế, để tiếp tục cuộc hành trình mà chính cô đã mở ra.

Bắc Ireland những năm 1948-1956, Jocelyn Bell bước vào những năm tháng đi học đầu tiên và đối mặt cuộc đấu tranh đầu tiên cho tình yêu với khoa học.

Ngày thứ Tư của tuần học đầu tiên, nhà trường đưa học sinh nam tới phòng thí nghiệm khoa học, còn nữ sinh tới phòng học nấu ăn và thêu thùa. Người ta đã mặc định tương lai của học sinh nữ là làm nội trợ và chăm sóc gia đình. Ngay từ khi ấy, Jocelyn biết điều đó là sai. Cô lên tiếng phản đối, nhưng giáo viên chỉ phớt lờ.

Khi Jocelyn về nhà và kể lại sự việc, cha mẹ cô đã nổi trận lôi đình. Là những tín đồ Quaker thuần thành, cha mẹ cô mang niềm tin rằng có một phần của Thượng Đế bên trong mỗi con người, không phân biệt một ai. Vì vậy, bất kỳ học sinh nào cũng có quyền và cần được tiếp nhận nền giáo dục khoa học.

Cha mẹ cô cùng vài phụ huynh khác đã đấu tranh quyết liệt với ban giám hiệu nhà trường. Trước sức ép đó, nhà trường buộc phải nhượng bộ thay đổi chính sách. Nhờ vậy, Jocelyn và hai người bạn khác trở thành những nữ sinh đầu tiên bước vào phòng thí nghiệm.

Khi cơ hội mở ra, Jocelyn nhanh chóng khẳng định năng lực bản thân. Trong kỳ thi học kỳ Vật lý và Thiên văn học đầu tiên đó, cô xuất sắc giành điểm số cao nhất lớp. Thế nhưng, giáo viên không dành bất kỳ lời khen ngợi và động viên nào cho cô. Điều duy nhất họ làm là mắng mỏ các nam sinh vì “đã để một đứa con gái vượt mặt”.

Năm 11 tuổi, Jocelyn trượt kỳ thi phân loại tuyển sinh trung học 11-plus. Ở hệ thống giáo dục Anh quốc thời bấy giờ, thất bại này gần như là dấu chấm hết cho con đường học thuật. Jocelyn thất vọng và hoài nghi bản thân. Và thêm một lần nữa, tình yêu thương và niềm tin kiên định của gia đình đã thay đổi mọi thứ. Thay vì buông xuôi, cha mẹ quyết định gửi Jocelyn đến một trường nội trú độc lập dành cho nữ sinh tại York.

Chính tại ngôi trường này, Jocelyn gặp thầy dạy Vật lý Henry Tillott – có thể được xem như một trong những người thầy quan trọng nhất đời cô.
Giáo dục phổ thông thời bấy giờ thường yêu cầu học sinh học thuộc lòng rất nhiều định luật và công thức. Nhưng Henry Tillott đã chỉ dạy Jocelyn theo một cách hoàn toàn khác.

“Em không cần học thuộc lòng quá nhiều dữ kiện; em chỉ cần nắm vững một vài nguyên lý cốt lõi, rồi từ đó áp dụng, phát triển và tự mình suy luận ra mọi thứ. Thầy là một người thầy giỏi và đã cho tôi thấy môn vật lý dễ dàng đến nhường nào.” – như lời mà Jocelyn sau này kể lại về ông.

Năm 1957, khi thế giới ngước nhìn vệ tinh Sputnik 1 bay vào quỹ đạo, thổi bùng kỷ nguyên khám phá vũ trụ, Jocelyn 14 tuổi cũng xác định quỹ đạo cuộc đời mình gắn với bầu trời kia. Cô say sưa với cuốn sách cha mang về từ thư viện – chính là Frontiers of Astronomy của nhà thiên văn Fred Hoyle. Khoảnh khắc lật giở những trang sách mô tả các thiên hà tự xoay quanh tâm, Jocelyn đã tự nhủ với bản thân: “Mình thích những kiến thức vật lý này. Mình có thể trở thành một nhà thiên văn học.”

Cuộc hành trình rực rỡ của nhà thiên văn vĩ đại ấy đã bắt đầu như vậy.

XUYÊN QUA ĐỊNH KIẾN

Năm 1961, Jocelyn Bell nhập học ngành Vật lý tại Đại học Glasgow. Khi bước vào chuyên ngành nâng cao, cô trở thành nữ sinh duy nhất trong giảng đường với 59 nam sinh.

Khi cô bước vào giảng đường, nhóm nam sinh không hề chào đón hay tôn trọng nữ sinh duy nhất trong căn phòng. Họ huýt sáo, la ó, dậm giày xuống sàn, và đập tay liên hồi lên mặt bàn. Đó là thứ “truyền thống” kinh khủng mà những nữ sinh hiếm hoi như Jocelyn phải thường xuyên đối mặt. Không có ai làm gì để ngăn cản cái truyền thống đó, và cô phải tự mình đối mặt tất cả.

“Tôi đã học được cách kiểm soát sự đỏ mặt của mình, vì nếu tôi đỏ mặt, họ lại càng làm ồn hơn. Đó là một thành tựu lớn. Tôi có thể bước vào phòng với khuôn mặt lạnh tanh như đá, giả vờ như không nghe thấy gì, đi thẳng về chỗ ngồi của mình và để mặc cho tiếng hỗn loạn gầm rú xung quanh.” – Jocelyn sau này kể lại.

Sau khi tốt nghiệp Đại học Glasgow năm 1965, Jocelyn muốn tiếp tục nghiên cứu thiên văn học. Bà chọn thiên văn học vô tuyến (radio astronomy) vì không muốn phải thức đêm ròng rã như các nhà thiên văn quang học. Công việc tại Đài quan sát Jodrell Bank đã không thể mở ra cơ hội học tiến sĩ do vị giám đốc ở đó có định kiến chống lại sinh viên nữ. Jocelyn nộp đơn vào Cambridge như một phương án cầu may. Để rồi đến chính cô cũng kinh ngạc khi nhận được giấy báo trúng tuyển.

Thêm một lần nữa, Jocelyn lại là một trong số cực ít những nữ sinh theo học, hoàn toàn lạc lõng giữa thế giới của những nam sinh trung lưu Anh quốc. Những đồng nghiệp nam luôn thể hiện phong thái áp đảo. Họ tranh luận dõng dạc, không ngần ngại thể hiện bản thân. “Họ có thể thường xuyên sai sót, nhưng họ không bao giờ nghi ngờ bản thân.” – bà mô tả.

Ngược lại hoàn toàn với sự tự tin đó, Jocelyn bị bủa vây bởi cảm giác tự ti. Cô mang nỗi lo sợ thường trực rằng ban tuyển sinh Cambridge đã phạm phải sai lầm nào đó khi nhận cô vào đây, và sớm muộn gì họ cũng sẽ phát hiện ra và đuổi học mình.

“Họ đã phạm sai lầm khi tuyển mình, mình không đủ thông minh cho nơi này. Họ có thể sẽ đuổi mình đi khi phát hiện ra sai lầm đó. Vậy tôi phải làm gì đây? Tôi quyết định rằng cho đến khi họ đuổi tôi đi, tôi sẽ làm việc cật lực hết sức mình, để đến ngày bị đuổi, tôi sẽ không phải mang một lương tâm cắn rứt” – Jocelyn khi ấy đã nghĩ như vậy.

Chính tâm lý sợ hãi bị “bại lộ” đã biến Jocelyn thành một nhà nghiên cứu thực nghiệm tỉ mỉ và nhiệt thành.

Jocelyn trực tiếp tham gia lắp ráp và xây dựng chiếc kính viễn vọng vô tuyến khổng lồ, bất chấp lời xì xào của đồng nghiệp nam rằng công việc này không dành cho phụ nữ. Cô cùng các cộng sự tự tay vung búa tạ đóng hàng ngàn cọc gỗ xuống nền đất, leo lên thang cao, tự tay kéo, nối thủ công gần 200 kilomet dây đồng, trên cánh đồng rộng bằng 57 sân tennis.

Khi thiết bị đi vào hoạt động vào tháng 7 năm 1967, Jocelyn là người duy nhất chịu trách nhiệm vận hành và phân tích dữ liệu. Công nghệ máy tính thời bấy giờ cực kỳ hạn chế (cả Cambridge chỉ có một chiếc máy tính có bộ nhớ nhỏ hơn một chiếc laptop ngày nay), dữ liệu được đưa ra với những đường mực ziczac trên các dải giấy cuộn.

Mỗi bốn ngày, chiếc kính viễn vọng khổng lồ lại quét qua bầu trời phía Bắc và tạo ra khoảng 120 mét giấy ghi dữ liệu. Jocelyn rạp người trên những dải giấy dài dằng dặc, tỉ mỉ rà soát từng milimet dữ liệu. Trong suốt sáu tháng vận hành, Jocelyn đã phải dùng mắt thường dò dẫm kiểm tra thủ công 5,3 kilomet dữ liệu giấy. Cô làm việc điên cuồng, không cho phép mình bỏ sót bất kỳ chi tiết nào, để chứng minh mình xứng đáng có một chỗ đứng tại đây. 

MỘT KHÁM PHÁ LỊCH SỬ

Vào một ngày cuối tháng 8 năm 1967, đôi mắt Jocelyn dừng lại ở một đoạn tín hiệu bất thường chỉ dài khoảng 0,6cm trên cuộn giấy dài. Một vệt mực bất thường, cực kỳ nhỏ, mà cô gọi là “vết xước” (scruff) kỳ lạ. Vết xước ấy không chỉ xuất hiện một lần. Nó trở lại vào những ngày sau đó. Và thú vị là, nó luôn xuất hiện ở cùng một vị trí trên bầu trời theo thời gian thiên văn.

Khi Jocelyn mang dữ liệu đến báo cáo, giáo sư hướng dẫn Antony Hewish đã gạt đi. Ông cho rằng đó chỉ là nhiễu sóng từ Trái Đất, hoặc do học trò đấu nối thiết bị sai cách. Nhưng Jocelyn biết đó không phải sai sót. Cô không từ bỏ vết xước ấy. Phát hiện lịch sử ngành thiên văn đã có thể đến muộn hơn rất nhiều, nếu người nghiên cứu sinh trẻ ấy không bất chấp theo đuổi khám phá của mình.

Để xem “vết xước” kia thực sự là gì, Jocelyn cần máy ghi giấy chạy nhanh hơn, để nhìn rõ cấu trúc bên trong. Để làm được như thế, cô phải có mặt tại đài thiên văn đúng vào khoảnh khắc khu vực bầu trời chứa “vết xước” lướt ngang qua, rồi tự tay gạt công tắc bật máy ghi tốc độ cao. Cuối tháng 11, sau nhiều lần thất bại vì tín hiệu quá yếu hoặc máy đứt giấy, cuối cùng cô cũng bắt trọn vẹn được nó.

Ngày 28 tháng 11 năm 1967, Jocelyn đã ghi lại một chuỗi xung vô tuyến nhịp nhàng đáng kinh ngạc. Mỗi chóp nhọn xuất hiện cách nhau chính xác 1,337 giây. Không ai biết đến vận thể khổng lồ nào có thể nhấp nháy nhanh và đều đặn đến vậy. Nhóm nghiên cứu ban đầu còn đùa rằng đây là tín hiệu liên lạc của sự sống ngoài hành tinh và đặt biệt danh cho nó là LGM-1 (Little Green Men).

Chỉ trong vòng hai tuần sau đó, ngay trước lễ Giáng sinh năm 1967, giữa đống giấy biểu đồ khổng lồ lại chất cao như núi, Jocelyn cặm cụi lật giở và tìm thấy “vết xước” thứ hai, rồi thứ ba, ở những vùng trời hoàn toàn khác nhau, với nhịp đập nhanh hơn (1,2 giây). Đây không phải tín hiệu của sự sống ngoài hành tinh, đây cũng không phải một lỗi kỹ thuật, đây là một lớp thiên thể hoàn toàn mới, với năng lượng cực lớn và quay cực nhanh.

Đó là cách mà Sao xung (Pulsar) hiện diện với nhân loại. Bằng sự kiên nhẫn và tỉ mỉ đến phi thường, với một đoạn giấy 0,6 centimet bất thường giữa 5 kilomet dữ liệu lặp đi lặp lại, nghiên cứu sinh 24 tuổi ấy đã thay đổi ngành thiên văn mãi mãi.

Thông tin về phát hiện lịch sử bùng nổ trên các kênh truyền thông. Các nhà báo vây quanh giáo sư Antony Hewish để phỏng vấn về ý nghĩa thiên văn và khía cạnh khoa học đột phá. Rồi họ quay sang Jocelyn, hỏi cô có bao nhiêu bạn trai, về số đo ba vòng. Họ yêu cầu cô cởi bớt vài chiếc cúc áo để chụp ảnh. Tác giả quan trọng của phát hiện lịch sử, bị coi như một món đồ trang trí cho thành tựu của người khác.

Đỉnh điểm vào tháng 10 năm 1974, Giải Nobel Vật lý vinh danh phát hiện về Sao xung được trao cho giáo sư Antony Hewish và Martin Ryle. Tên của Jocelyn Bell Burnell – người đã tự tay đóng cọc xây kính viễn vọng, dò dẫm hàng kilomet dữ liệu, và trực tiếp phát hiện ra tín hiệu đầu tiên, rồi kiên quyết theo đuổi nó – hoàn toàn bị gạt ra ngoài.

Jocelyn đón nhận sự việc bằng một thái độ điềm tĩnh. Ngay cả khi Fred Hoyle – chính là tác giả cuốn sách Frontiers of Astronomy từng thắp lên ước mơ thiên văn của Jocelyn năm 14 tuổi – cáo buộc giáo sư hướng dẫn Antony Hewish “chiếm đoạt” công sức học trò, Jocelyn chủ động không bước vào cuộc chiến ấy.

Cô chia sẻ rằng Hội đồng Nobel thường chỉ trao giải cho các trưởng dự án, là những người chịu trách nhiệm tài chính và định hướng.

Đối với Jocelyn, niềm tự hào lớn nhất từ giải Nobel ấy không phải là tấm huy chương cá nhân, mà là giá trị khoa học được công nhận. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử, Ủy ban Nobel quyết định trao giải cho một khám phá thuộc lĩnh vực Thiên văn học. Jocelyn cảm thấy vô cùng kiêu hãnh vì chính những ngôi sao của bà đã thuyết phục được hội đồng vật lý toàn cầu rằng “có vật lý thực sự tồn tại trong vật lý thiên văn”.

“Tôi cảm thấy mình đã sống rất tốt nhờ việc không nhận giải Nobel. Bởi vì nếu bạn nhận giải Nobel, bạn sẽ có một tuần lễ huy hoàng rồi sau đó không ai tặng bạn thêm thứ gì nữa. Nhưng nếu bạn không nhận giải Nobel, bạn sẽ nhận được hầu như mọi giải thưởng khác được tạo ra trên đời! Như thế vui hơn nhiều, hầu như năm nào tôi cũng được đi tham dự một bữa tiệc khác nhau để nhận giải.” – Jocelyn đã hóm hỉnh chia sẻ với báo chí. 

NHƯ NGỌN HẢI ĐĂNG

Năm 1968, giữa thời điểm phát hiện ra sao xung thứ hai và thứ ba, Jocelyn Bell đính hôn với Martin Burnell.

“Tôi đã đeo chiếc nhẫn đính hôn của mình vào phòng thí nghiệm, nhưng sau đó tôi vô cùng hối hận. Chiếc nhẫn đó bị cộng đồng khoa học nhìn nhận như một tín hiệu báo rằng tôi chuẩn bị từ bỏ nghiên cứu. Xã hội thời đó mặc định phụ nữ trẻ chỉ nên kết hôn và sinh con, chứ không phải là đi thực hiện những khám phá thiên văn vĩ đại!” – Jocelyn nhớ lại.

Thậm chí, định kiến bấy giờ khắc nghiệt đến mức cho rằng nếu một người phụ nữ đã kết hôn vẫn tiếp tục đi làm, điều đó ngầm ám chỉ người chồng cô không đủ năng lực để chu cấp cho gia đình, và đó là một sự “sỉ nhục” đối với người đàn ông.

Jocelyn sau này đã chia sẻ rằng: “Sâu thẳm trong lòng, chúng ta vẫn sợ rằng một người mẹ đi làm là một kiểu phụ nữ gần như phạm tội”.

Vì tính chất công việc của Martin đòi hỏi phải luân chuyển liên tục khắp nơi, Jocelyn buộc phải di dời cuộc đời mình theo các cột mốc sự nghiệp của chồng. Suốt 18 năm sau đó, cô không thể có được một vị trí nghiên cứu toàn thời gian cố định. Mỗi lần chuyển đến một thành phố mới, cô lại phải viết “thư xin việc” gửi đến các cơ sở thiên văn học địa phương, hỏi xem họ có bất kỳ công việc bán thời gian nào không, vừa để duy trì sự nghiệp khoa học, vừa để chăm sóc cậu con trai Gavin.

“Cô có chồng, có con nhỏ, có nhà mới và cô nói cô thấy buồn chán, cô bị làm sao thế? – một người phụ nữ khác từng chất vấn tôi như vậy.” – Jocelyn kể.

Trong khi hầu hết các nhà vật lý thiên văn bấy giờ dành cả đời chuyên sâu vào một dải phổ điện từ nhất định, Jocelyn liên tục bước vào những lĩnh vực mới. Cô lao vào nghiên cứu Thiên văn hồng ngoại, tia X, tia Gamma. Chính trong những ngày tháng tưởng chừng chắp vá ấy, Jocelyn tự trau dồi mình trở thành một nhà thiên văn toàn diện và xuất chúng của ngành.

Chỉ đến năm 1991, ở tuổi 48, Jocelyn mới có được vị trí Giáo sư Vật lý toàn thời gian cố định đầu tiên tại Open University. Những nỗ lực bền bỉ đã trả lại cho nhà nghiên cứu ấy những quả ngọt xứng đáng nhất. Cô lần lượt được bầu làm Nữ Chủ tịch đầu tiên của Viện Vật lý Anh (IOP), Nữ Chủ tịch đầu tiên của Hội Hoàng gia Edinburgh (RSE), nhận huy chương Copley danh giá năm 2021 và được phong tước hiệu tối cao Companion of Honour vào năm 2025.

Đến năm 2018, nửa thế kỷ sau những ngày rạp người trên những cuộn giấy biểu đồ, Jocelyn Bell Burnell được vinh danh cho giải thưởng danh giá Special Breakthrough Prize in Fundamental Physics trị giá 3 triệu đô-la.

Ngay khi nhận giải, Jocelyn đã quyên góp toàn bộ số tiền 3 triệu USD này để thành lập Quỹ học bổng tài trợ cho các nghiên cứu sinh Tiến sĩ ngành Vật lý thuộc các nhóm thiểu số như phụ nữ, người da màu, cộng đồng LGBT+, người khuyết tật và các sinh viên tị nạn.

“Tôi nhìn thấy dữ liệu và nhận ra nó không khớp, nó cần được chú ý—đó là một điểm bất thường không vừa vặn với hệ thống, và tôi cũng vậy.”

Jocelyn tin rằng, chính cảm giác chông chênh của một “kẻ ngoại đạo” tại Cambridge năm 1967 đã ép bản thân phải làm việc chăm chỉ và tỉ mỉ hơn bất kỳ ai để rồi tìm ra Sao xung.

“Tôi có thể không cần số tiền này cho lối sống của mình, nhưng tôi cần sự đảm bảo rằng những người giống như tôi có thể làm nghiên cứu sinh. Quỹ học bổng này gửi đi một thông điệp rằng tấm bằng Tiến sĩ Vật lý không phải là đặc quyền chỉ dành cho những nam giới trung lưu da trắng.” – nhà nghiên cứu khẳng định.

Dù không có tên trên tấm huy chương Nobel danh giá năm ấy, Jocelyn Bell Burnell đã tự mình trở thành một biểu tượng rực rỡ của lịch sử khoa học. Ủy ban Nobel đã không ghi danh cô, nhưng lịch sử khoa học nhân loại đã làm thay điều đó.

Hệt như những vì Sao xung mà chính mình khám phá, Jocelyn Bell Burnell trở thành “ngọn hải đăng” bền bỉ phát đi những ánh sáng xuyên qua màn đêm của định kiến, cổ vũ và dẫn đường cho những con người “ở ngoài lề” vươn tới những ước mơ của đời mình.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

viVietnamese