“Nhỡ tôi không sinh đủ hai con thì sao?”

Đó là câu hỏi đầu tiên bật ra khi Nhà tiếp nhận thông điệp khuyến sinh mới. Sau cụm “người trẻ lười đẻ” nổi bật trên báo chí, giờ chúng ta tiếp nhận thêm “Yêu nước là sinh đủ hai con.”

Nếu câu trả lời cho bài toán khuyến sinh nan giải là tinh thần yêu nước, vậy phải chăng chỉ cần những chiến dịch truyền thông thay đổi nhận thức về chuyện sinh con đã là đủ? Và nếu tình yêu nước được định nghĩa bằng một quyết định sinh đẻ cụ thể, vậy những người không thể hoặc không muốn sinh (đủ) con sẽ được đặt ở đâu trên thang giá trị ấy? Liệu có ai sẽ sinh con để thể hiện tình yêu nước, ngay cả khi bản thân chưa hề sẵn sàng?

CUỘC KHỦNG HOẢNG CỦA THẾ HỆ “LƯỜI ĐẺ”

Tổng tỷ suất sinh của Việt Nam giảm từ 2,01 con/phụ nữ năm 2022 xuống 1,91 năm 2024. Đây là mức thấp nhất trong lịch sử nhân khẩu học của Việt Nam.

Ngay lập tức, nhiều kênh báo chí, truyền thông đã đóng khung hiện tượng này như một “cuộc khủng hoảng”. Những cụm từ mang tính cảnh báo mạnh mẽ như “mức sinh thấp kỷ lục”, “cơn bão già hóa dân số”, “cuộc chiến tăng tỷ lệ sinh” xuất hiện nổi bật trên các tiêu đề. Cũng trùng hợp thay, song hành với “cuộc khủng hoảng” ấy, lại chính là một thế hệ trẻ với nhãn dán “lười yêu, ngại cưới, sợ sinh con”. “Lười” sinh con bị đặt câu hỏi như một “trào lưu”, hay thậm chí “căn bệnh” của thanh niên.

Đổ dồn trách nhiệm cho thế hệ trẻ không chịu đẻ không phải là hiện tượng riêng lẻ tại Việt Nam. Trên toàn thế giới, khi mũi tên tỷ lệ sinh đi xuống, mũi dùi chỉ trích của xã hội lại hướng về phía người trẻ, đặc biệt là phụ nữ. Theo báo cáo của UNFPA Việt Nam (2025), phụ nữ vẫn là đối tượng bị xã hội đổ lỗi khi tỷ lệ kết hôn và tỷ suất sinh giảm [1]. Tại Hungary, một báo cáo năm 2022 còn cảnh báo rằng phụ nữ với học vấn cao (bậc giáo dục đại học) tạo ra nguy cơ trực tiếp khiến tỷ lệ sinh giảm, vì họ khó tìm người để kết hôn và sinh con [2].

Trong những thông điệp này, chân dung thế hệ trẻ, đặc biệt là phụ nữ, hiện lên như một nhóm người ích kỷ, sợ khổ, chỉ biết đến nhu cầu của bản thân và trốn tránh trách nhiệm với gia đình và xã hội.

Nhìn qua lăng kính này, tỷ lệ sinh giảm là hệ quả của một cuộc khủng hoảng đạo đức, xuất phát từ một thế hệ không còn coi trọng, thậm chí coi thường hôn nhân và việc sinh con. Luồng thảo luận vì thế chuyển trọng tâm từ những vấn đề cần sự chung tay giải quyết của toàn xã hội, sang lựa chọn cá nhân của những người bị gán nhãn là “không chịu” sinh con

Trong cách nhìn này, ta không còn thấy những nguyên nhân như giá nhà leo thang vượt xa thu nhập, chi phí y tế và giáo dục ngày càng đắt đỏ, hệ thống phúc lợi gia đình còn hạn chế, hay tình trạng bất bình đẳng trong phân công lao động chăm sóc, cùng những biến động xã hội và tình trạng biến đổi khí hậu khiến người trẻ cảm thấy bi quan về tương lai.

Nếu vấn đề được đóng khung như một cuộc khủng hoảng về lối sống, vậy giải pháp theo đó hiển nhiên nghiêng về tuyên truyền, vận động và kêu gọi trách nhiệm cá nhân, thay vì những thay đổi vĩ mô và chuyên sâu hơn về nhà ở, phúc lợi, chính sách thai sản và phân công lao động trong gia đình.

Theo đó, vấn đề chất vấn đã trở thành “Tại sao bạn chưa sinh con?”, thay vì những câu hỏi như “Làm sao để người trẻ có thể có nhà để ở? Làm sao để giáo dục tốt cho con? Làm sao để người mẹ đi làm mà không lo con thiếu người trông nom, hay ở nhà chăm con mà không phải đánh đổi sự nghiệp?”. Theo đó, tỷ lệ sinh thấp không còn được hiểu là hệ quả của điều kiện sống không đảm bảo, mà bị diễn giải thành sự thiếu trách nhiệm, thiếu ý thức của cá nhân.

Nói cách khác, lối suy nghĩ này góp phần tạo ra một niềm tin “đơn giản hóa vấn đề” rằng chỉ cần người trẻ thay đổi suy nghĩ, cuộc khủng hoảng dân số sẽ tự động được giải quyết, mà không cần các điều kiện xã hội nền tảng tác động và chi phối quyết định sinh con.

NHÌN SÂU HƠN VÀO THÔNG ĐIỆP

Để có thể phân tích kỹ hơn về “Yêu nước là sinh đủ hai con”, chúng ta cần đặt khẩu hiệu này vào bối cảnh lịch sử của các chính sách dân số mà Việt Nam áp dụng.

Sau nhiều thập kỷ thực hiện kế hoạch hóa gia đình với mục tiêu giảm tỷ lệ sinh, Việt Nam đang bước vào giai đoạn đảo chiều, chuyển sang khuyến khích sinh con để duy trì mức sinh thay thế. Trong bối cảnh đó, những định hướng như không kết hôn muộn, không sinh con muộn, mỗi cặp vợ chồng (nên) sinh đủ hai con và nuôi dạy con tốt được nhấn mạnh như những giải pháp then chốt.

Theo Cục trưởng Cục Dân số Lê Thanh Dũng, nội dung trọng tâm của công tác dân số là vận động các cặp vợ chồng với thông điệp “yêu nước là sinh đủ 2 con”, nhằm lấp khoảng trống mức sinh thấp đang ở ngưỡng báo động [3]. Ở góc độ hoạch định chính sách, có thể hiểu đây là hướng truyền thông về tầm quan trọng của vấn đề dân số, cũng như khẳng định rằng sinh con không chỉ là câu chuyện riêng của từng gia đình, mà có liên hệ đến sự phát triển của quốc gia.

Trên thực tế, những lo ngại về viễn cảnh già hóa dân số, sự thiếu hụt lực lượng lao động trong tương lai và nguy cơ vỡ quỹ an sinh xã hội là chính đáng. Một quốc gia khó có thể phát triển bền vững nếu cấu trúc dân số mất cân đối nghiêm trọng, với gánh nặng phúc lợi xã hội đè lên vai lực lượng lao động trẻ.

Tuy nhiên, điều chúng ta cần lưu tâm không chỉ là mục tiêu hay thiện chí của chính sách, mà còn phải bao gồm cả cách chính sách được truyền đạt và diễn giải trong không gian công cộng.

Quyết định sinh con được gắn liền với tình yêu nước, vốn là một giá trị mà cộng đồng coi trọng, thì nó trở thành thứ để phán xét đạo đức con người. Nó ngầm định rằng sinh đủ hai con không đơn thuần là lựa chọn của riêng của mỗi gia đình, mà còn là một biểu hiện của trách nhiệm công dân đối với quốc gia.

Nếu “sinh đủ hai con là yêu nước”, vậy những người không thể hoặc không muốn sinh đủ hai con sẽ được/bị nhìn nhận như thế nào trong hệ giá trị ấy? Dù không được nói ra một cách trực diện, liệu họ có bị phán xét là chưa đủ yêu nước, hay thậm chí cản trở sự phát triển của xã hội không?

Đồng thời, khi vấn đề bị đóng khung như một bài kiểm tra về tinh thần yêu nước, các thảo luận và định hướng có thể lại bỏ qua những câu hỏi quyết định trực tiếp đến khả năng sinh và nuôi con: Làm sao để thu nhập có thể theo kịp chi phí nhà ở và sinh hoạt đắt đỏ? Ai sẽ hỗ trợ cha mẹ chi trả giáo dục, y tế cho con? Ai đang gánh phần lớn trách nhiệm chăm sóc con cái và gia đình? Hệ thống phúc lợi có thể làm gì tốt hơn để hỗ trợ các gia đình trong việc sinh và chăm sóc con trẻ?

PHẢN ỨNG CỦA DƯ LUẬN NÓI LÊN ĐIỀU GÌ?

Ngay khi khẩu hiệu “Yêu nước là sinh đủ hai con” xuất hiện, ta có thể quan sát thấy những bình luận bất bình từ công chúng ở các kênh thông tin, diễn đàn và mạng xã hội. Nhiều ý kiến cho rằng thông điệp này mang tính áp đặt, tách rời thực tế.

Trong bối cảnh người trẻ phải vật lộn với chi phí sinh hoạt leo thang, thị trường lao động bất ổn, nhà ở vượt xa khả năng tiếp cận, lao động nữ đối diện nguy cơ bị tụt lại hoặc mất việc khi sinh nở, trong khi trách nhiệm chăm sóc vẫn chủ yếu dồn lên vai phụ nữ… những thông điệp mang tính phán xét đạo đức đối với quyết định sinh con không những thiếu thuyết phục mà còn dễ phản tác dụng. Bởi nó làm sâu sắc thêm cảm giác đơn độc của người trẻ. Thay vì được cảm thông và hỗ trợ, người trẻ cảm thấy mình đang phải tự xoay sở trong những điều kiện sống ngày càng bấp bênh, rồi lại bị đổ lỗi khi họ không thể sinh con trong chính những điều kiện ấy.

Một điểm quan trọng thường bị bỏ qua trong các thảo luận về tỷ lệ sinh giảm đó là RẤT NHIỀU NGƯỜI TRẺ MUỐN CÓ CON, NHƯNG ĐANG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC MONG MUỐN ẤY [1] [4].

Không phải người trẻ không muốn làm cha mẹ, mà thực tế là, họ đang ở trong một bối cảnh sống khiến mong muốn ấy trở nên bất khả thi. Khi khả năng duy trì cuộc sống ổn định cho chính mình còn mong manh, và khả năng bảo đảm tương lai cho một đứa trẻ vẫn là dấu hỏi, việc trì hoãn sinh con không hề là sự quay lưng với gia đình hay xã hội, mà chính là một lựa chọn có trách nhiệm.

Vì thế, tỷ lệ sinh thấp không phản ánh sự “suy đồi giá trị” của người trẻ, mà đang bóc trần sự thiếu thốn của các điều kiện hỗ trợ việc làm cha mẹ và nuôi dưỡng con trẻ. Khi khẩu hiệu “Yêu nước là sinh đủ hai con” không song hành với những thay đổi thực chất về nhà ở, phúc lợi, chăm sóc và nuôi dạy trẻ em, bình đẳng giới trong lao động và chăm sóc, thông điệp ấy càng trở nên phản cảm trong mắt nhiều người.

Chúng ta không thể sinh ra những đứa trẻ chỉ để được tuyên dương là “yêu nước”. Chúng ta sinh con khi cảm thấy an toàn và tin tưởng rằng đứa trẻ ấy sẽ được xã hội chào đón bằng các điều kiện sống tốt đẹp, chứ không phải bằng những khẩu hiệu xa vời hay lời ca ngợi đơn thuần.

NGHĨ VỀ GIẢI PHÁP – “KÊU GỌI SINH” CẦN PHẢI SONG HÀNH VỚI “XÂY DỰNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN MONG MUỐN SINH”

Nếu ta biết rằng thế hệ trẻ không hề từ chối sinh con vì ích kỷ hay thiếu lòng yêu nước, thì câu hỏi tiếp theo cần phải đặt ra là “Điều gì đang ngăn cản họ hiện thực hóa mong muốn về những đứa trẻ?”. Với rất nhiều người trẻ, khát vọng sinh con vẫn tồn tại, nhưng nó đang va đập mạnh mẽ với những rào cản của cơm áo gạo tiền và nỗi lo về tương lai.

Trong bối cảnh đó, việc phân tích giải pháp không thể chỉ xoay quanh khía cạnh nhận thức hay thái độ. Lòng yêu nước là yếu tố tinh thần quan trọng, nhưng chỉ riêng nó không thể đảm bảo năng lực tài chính để trả tiền thuê nhà, bỉm sữa hay học phí. Để gỡ bỏ nút thắt dân số, tư duy chính sách buộc phải chuyển dịch từ thay đổi thái độ cá nhân sang kiến tạo một hệ thống hỗ trợ đủ mạnh, tập trung giải quyết sự bất bình đẳng giới trong trách nhiệm chăm sóc, gánh nặng chi phí nuôi dạy và bài toán an cư.

Một trong những rào cản lớn nhất khiến phụ nữ ngại sinh thêm con chính là sự bất bình đẳng giới trong phân công lao động gia đình. Phụ nữ đang phải gánh vác số giờ làm việc nhà và chăm sóc không lương cao hơn nhiều so với nam giới. Họ vừa phải lo kinh tế, vừa phải làm mẹ, làm vợ, làm dâu. Sự kiệt quệ cả về thể xác lẫn tinh thần này khiến nhiều người phụ nữ buộc phải đánh đổi, không sinh con hoặc đánh mất sự nghiệp.

Cần có sự tham gia sâu rộng của nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng trong việc thiết kế một môi trường làm việc thân thiện hơn với người có con. Nhìn vào sự chuyển dịch của Nhật Bản, ta thấy một hướng đi cụ thể về việc chia sẻ trách nhiệm. Khi tăng mức hỗ trợ thu nhập trong thời gian nghỉ thai sản (từ 25% lên 67%) và thúc đẩy nam giới tham gia vào việc chăm sóc con (tỷ lệ nghỉ phép tăng từ 1,4% lên 12,7%), tỷ suất sinh đã có cải thiện nhẹ [5].

Hướng đi phải là bình thường hóa việc sinh con trong hành trình nghề nghiệp của người lao động. Như vậy thì việc sinh con mới không còn là “rủi ro nghề nghiệp” gắn với phụ nữ [6].

Bên cạnh áp lực giới, gia đình trẻ còn mắc kẹt trong thế vừa phải nuôi con nhỏ với chi phí ngày càng đắt đỏ, vừa phải phụng dưỡng cha mẹ. Nhìn sang Trung Quốc, chi phí nuôi một đứa trẻ đến năm 18 tuổi gấp tới 6,9 lần GDP bình quân đầu người. Do đó, chính sách dân số không thể tách khỏi chính sách an sinh xã hội. Phát triển hệ thống chăm sóc người cao tuổi cũng chính là để hỗ trợ cho người trẻ. Khi hệ thống an sinh chia sẻ trách nhiệm chăm sóc, người trẻ mới có đủ tài chính và tâm trí để nghĩ đến việc mở rộng gia đình.

Cuối cùng, không thể nói về khuyến sinh mà bỏ qua yếu tố vật lý cơ bản nhất là nhà ở. Không gian sống chật hẹp và giá nhà phi mã tại các đô thị thậm chí bị ví von như một “biện pháp tránh thai” thời hiện đại.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, trong Hội nghị về nhà ở xã hội ngày 6/3/2025, nhận định rằng: “Bây giờ không hạn chế sinh con để chống già hóa dân số, nhưng nhà ở chỉ có 10, 15, 20 mét vuông thì làm sao sinh ba được. Đây là động lực phát triển dân số chứ không chỉ là vấn đề ăn ở”.

Một cặp đôi sẽ không thể tự tin sinh thêm con nếu họ không nhìn thấy khả năng đảm bảo một không gian sống tối thiểu cho đứa trẻ. Do đó, các chính sách hỗ trợ nhà ở, từ lãi suất vay đến trợ cấp thuê nhà (như hướng đi của Thái Lan, Trung Quốc), cần được xem xét như những khoản đầu tư chiến lược cho nhân khẩu học, chứ không chỉ là chính sách bất động sản đơn thuần.

TẠM KẾT – CẦN SỰ ĐỒNG HÀNH THAY VÌ PHÁN XÉT

Chúng ta có cơ hội và cần phải nhìn nhận hiện tượng tỷ lệ sinh giảm một cách thấu đáo và cẩn trọng hơn. Dữ liệu cho thấy rằng những thông điệp đổ lỗi hay khẩu hiệu kêu gọi thuần túy sẽ không giải quyết được những bài toán thực tế khó khăn mà thế hệ trẻ đang đối mặt.

Hướng giải quyết căn cơ không thể chỉ yêu cầu cá nhân thay đổi lối sống, hay hy sinh nhiều hơn, mà cần phải kiến tạo một hệ thống chính sách hỗ trợ mong muốn có con của mỗi người. Đó là một hệ thống nơi chính sách thai sản bảo vệ được sự nghiệp của người mẹ, nơi trách nhiệm chăm sóc được chia sẻ, và nơi nhà ở là quyền lợi cơ bản.

Chỉ khi nào người trẻ cảm thấy họ không đơn độc trong hành trình làm cha mẹ, khi các cặp đôi có được sự hỗ trợ từ Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng bằng sự thấu hiểu và chính sách cụ thể, thì khi đó những đứa trẻ mới có thể ra đời trong sự an tâm và tình yêu thương trọn vẹn.

TÀI LIỆU ĐỌC THÊM

[1] UNPFA (Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc), 2025. Báo cáo Tình trạng Dân số Thế giới 2025 – Một báo cáo rất quan trọng trong xuyên suốt quá trình nghiên cứu của Nhà về vấn đề khuyến sinh.

https://vietnam.unfpa.org/vi/publications/báo-cáo-tình-trạng-dân-số-thế-giới-2025

[2] Simon, Zoltan, và Bloomberg. “Hungary Publishes Controversial Study That Blames Educated Women for the Country’s Low Birth Rate.”

https://fortune.com/…/hungary-controversial-study…

[3] Thùy Giang. “”Yêu Nước Là Sinh đủ 2 Con”: Thông Điệp Mới Trước Nguy Cơ Suy Giảm Dân Số.” đăng trên trang Vietnam+ (VietnamPlus)

https://www.vietnamplus.vn/yeu-nuoc-la-sinh-du-2-con…

[4] NGƯỜI TRẺ LƯỜI ĐẺ, HAY NGƯỜI ĐỜI LƯỜI THẤU HIỂU? – Một bài viết khác trong series “Chuyện khuyến sinh” của Nhà Nhiều Cột

https://www.facebook.com/NhaNhieuCot/posts/pfbid074G2iZEn6gvggqSLBp4WhhoSbihLDpJ9n9LFZYJVpU7i5pFssCvmLpym5kFM31KRl

[5] Báo Điện tử Chính Phủ “Đồng Bộ Chính Sách để Tăng Mức Sinh và Duy Trì Mức Sinh Thay Thế.” https://baochinhphu.vn/dong-bo-chinh-sach-de-tang-muc…

[6] Chế độ thai sản là quyền lợi chính đáng, không phải đặc ân ban phát – Một bài viết khác trong series “Chuyện khuyến sinh” của Nhà Nhiều Cột

https://www.facebook.com/NhaNhieuCot/posts/pfbid0B4spf1BdgoyEGG5cMTLUggGTHLShFUNSENy8d7uK5uu3gejiAquXxqubjBtsTCVDl

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

viVietnamese